Bệnh cơ tim chu sản

  • Bệnh cơ tim chu sản (peripartum cardiomyopathy–PPCM), được định nghĩa bởi sự rối loạn chức năng tâm thu thất trái được chẩn đoán trong tháng cuối của thời kỳ mang thai cho đến 5 tháng sau đẻ.
  • Tỷ lệ mới mắc của bệnh cơ tim chu sản là 1 trong 000 đến 4.000 ca mang thai ở Mỹ.
Nguyên nhân
  • Bệnh nguyên của PPCM vẫn chưa rõ ràng. Có bằng chứng ủng hộ rằng bệnh do virus gây ra, bao gồm coxackievirus, parvovirus B19, adenovirus, và herpesvirus– những virus có thể nhân lên một cách không kiểm soát trong tình trạng giảm miễn dịch do mang thai.

Bệnh cơ tim chu sản | VinmecVi ghép gen bào thai, trong đó tế bào thai nhi thoát vào tuần  hoàn mẹ vàây ra viêm cơ tim tự miễn, cũng được gợi ý là một nguyên nhân  (Lancet 2006;368:687).

Loading…

Gần đây, một sản phẩm chia tách của prolactin cũng được cho là có liên quan đếnự phát triển của PPCM (Cell 2007;128:589).

Yếu tố nguy cơ

Các yếu tố nguy cơ khiến một phụ nữ bị PPCM bao gồm tuổi sản phụ cao, đa thai, mang thai nhiều lần, tiền sản giật và tăng huyết áp thai kỳ. Những phụ nữ người Mỹ gốc Phi có nguy cơ cao hơn, nhưng điều này có thể do tỷ lệ mắc cao huyết áp ở quần thể này là cao hơn.

CHUẨN ĐOÁN

Biểu hiện lâm sàng
  • Về lâm sàng, phụ nữ bị PPCM biểu hiện với các dấu hiệu và triệu chứng của suy

Vì khó thở khi gắng sức và phù chi dưới là phổ biến trong giai đoạn cuối của thờiì mang thai, PPCM có thể khó nhận ra. Ho, khó thở khi nằm và khó thở kịch phátề đêm là những dấu hiệu cảnh báo có thể có PPCM, cũng như là các dấu hiệu đẩy lệch vị trí mỏm tim và tiếng thổi mới xuất hiện khi thăm khám.

Hầu hết các bệnh nhân có suy tim độ III và IV NYHA mặc dù các trường hợp nhẹà ngừng tim đột ngột cũng xảy ra.

Test chuẩn đoán

Điện tim đồ

Trên điện tâm đồ thường có phì đại thất trái cũng như các bất thường về ST-T.

Chuẩn đoán hình ảnh

Việc chẩn đoán đòi hỏi phải có siêu âm tim với EF giảm và/hoặc giãn thất trái.

ĐIỀU TRỊ

Thuốc
  • Cơ sở chính của việc điều trị là giảm hậu gánh và tiền gánh.

Thuốc ức chế men chuyển được sử dụng ở những bệnh nhân sau đẻ trong khiydralazine được sử dụng ở những bệnh nhân vẫn đang mang thai.

Thuốc chẹn  được sử dụng để giảm nhịp tim nhanh, loạn nhịp và nguy cơ SCDà tương đối an toàn, mặc dù thuốc chẹn 1  chọn lọc (metoprolol và atenolol)ược ưa dùng hơn vì chúng tránh được giãn mạch ngoại vi và giảm nước tiểu.

Digoxin cũng an toàn trong thời kì mang thai và nên được sử dụng để tăng co bópà kiểm soát nhịp mặc dù nồng độ phải được kiểm soát chặt chẽ.

  • Thuốc lợi tiểu được sử dụng để giảm tiền gánh và giảm triệu chứng và cũng an toàn.

Ở những bệnh nhân có huyết khối, huyết tắc, cần phải sử dụng heparin, theo đóà Coumadin sau khi đẻ.

KẾT QUẢ/TIÂN LƯỢNG

  • Tiên lượng của PPCM tốt hơn tiên lượng của các dạng NICM khác.

Mức độ hồi phục của thất 6 tháng sau đẻ có thể dự báo sự hồi phục chung, mặcù sự cải thiện tiếp tục vẫn được quan sát thấy trong 2 đến 3 năm sau khi đượchẩn đoán.

Những lần mang thai tiếp theo ở những bệnh nhân PPCM có thể đi kèm với sựiảm chức năng thất trái đáng kể và có thể dẫn đến tử vong. Việc tư vấn về kếoạch hóa gia đình là cần thiết sau khi được chẩn đoán là PPCM, và những phụ nữ có chức năng thất trái không hồi phục nên được khuyến khích xem xét việc tránh mang thai trong tương lai.

Loading…
Chữa bệnh & Điều trị

Chữa bệnh & Điều trị

Trang chia sẻ thông tin về bệnh học và cách điều trị bệnh hiệu

Xen bài viết liên quan

Next Post

Discussion about this post