Làm gì khi bị ngất?

Ngất là một biểu hiện lâm sàng thường gặp và mục tiêu đầu tiên khi đánh giá là phải xác định xem bệnh nhân có tăng nguy cơ tử vong hay không.

Xử trí khi gặp người bị ngất
Định nghĩa

Ngất là tình trạng mất ý thức và trương lực tư thế một cách đột ngột và tự khỏi do thiếu máu toàn bộ não thoáng qua và hồi phục tự nhiên, hoàn toàn và nhanh chóng.

PHÂN LOẠI

Ngất được phân làm 4 nhóm dựa vào nguyên nhân:

Nguyên nhân não–tim (nguyên nhân phổ biến nhất): cường phế vị, xoang cảnhăng nhạy cảm, thay đổi tư thế đột ngột.

Hạ huyết áp tư thế: giảm thể tích, thuốc (gây ra do bác sĩ), rối loạn thần kinhhực vật.

● Tim mạch:

Loạn nhịp: rối loạn chức năng nút xoang, block nút nhĩ thất, máy tạo nhịp bịỗi, VT, SVT, hội chứng WPW và hội chứng QT kéo dài.

Cơ học: HCM phì đại, hẹp van, bóc tách động mạch chủ, u nhầy, nhồi máuhổi, tăng áp phổi, nhồi máu cơ tim cấp, mất mạch dưới đòn.

  • Nguyên nhân không rõ ràng khác (không phải ngất thật sự): động kinh, đột quỵ/TIA, hạ đường máu, thiếu oxy, tâm lý…

Xơ vữa động mạch não là nguyên nhân hiếm gặp của ngất thực sự trừ khi có sựắc nghẽn nặng cả 4 mạch nuôi não (hy vọng phát hiện được dấu hiệu thần kinhhu trú trước khi ngất).

Dịch tễ học
  • Phổ biến trong dân số nói chung: 6% những trường hợp nhập viện và 3% ở những phòng cấp cứu.

Tỷ lệ tương tự nhau giữa nam và nữ, một trong những nghiên cứu lớn nhất về dịchễ cho thấy tỷ lệ mới mắc là 11% khi theo dõi với thời gian trung bình trong 17ăm, với tỷ lệ tăng đáng kể sau 70 tuổi (N Engl J Med 2002;347:878).

Sinh lý bệnh

Hai yếu tố gây ngất liên quan đến não–tim bao gồm sự ức chế tim, trong đó nhịp chậm hay vô tâm thu là kết quả của tăng kích thích thần kinh phế vị đến tim, vàiảm áp lực mạch máu do mạch máu ngoại vi giãn vì giảm các kích thích giao cảm đến các động mạch ngoại vi. Hầu hết tất cả các bệnh nhân sự phối hợp của cả 2 thành phần như là cơ chế gây ngất.

Những kích thích đặc biệt có thể kích hoạt cơ chế não-tim, dẫn đến ngất do tìnhuống đặc biệt (v.d., đi tiểu, đại tiện, ho, nuốt).

Yếu tố nguy cơ

Bệnh tim mạch, tiền sử đột quỵ hoặc TIA, và HTN. Chỉ số khối cơ thể thấp, uống nhiều rượu và tiểu đường cũng đi kèm với ngất (Am J Cardiol 2000;85:1189; N Engl J Med 2002;347:878).

CHUẨN ĐOÁN

  • Ngất có thể báo trước một bệnh mà chúng ta không nghĩ đến, có thể là yếu tố gây tử vong liên quan đến tim mạch, vì vậy cần đánh giá một cách cẩn thận những bệnh nhân bị ngất.

Khám lâm sàng và khai thác kỹ tiền sử là yếu tố then chốt để chẩn đoán chính xácguyên nhân của ngất. Có tới 40% những cơn ngất mà cơ chế của nó vẫn khôngiải thích được (Ann Intern Med 1997;126:989).

Biểu hiện lâm sàng

Bệnh sử

Nên tập trung chú ý đến những sự kiện hoặc triệu chứng đặc biệt xảy ra trước và sau ngất, số lần có người chứng kiến cơn ngất, thời gian mất và phục hồi ý thức (đột ngột hay từ từ), và tiền sử bệnh tật của bệnh nhân.

  • Triệu chứng tiền triệu đặc trưng như buồn nôn, vã mồ hôi, thay đổi thị giác, đỏ bừng mặt gợi ý đến ngất do não-tim, mà yếu tố khởi phát thường sau một xúc cảm đặc biệt hoặc thay đổi môi trường và mệt mỏi sau đó.

Các dấu hiệu tiền triệu khác: Tiểu không tự chủ hoặc tăng dần các mức độ giảm thức thì chẩn đoán có khả năng nhất là động kinh.

Loạn nhịp thất thoáng qua thường gây đột ngột mất ý thức với sự phục hồi ý thứchanh chóng.

Ngất theo đợt thường liên quan đến bệnh tim có cấu trúc, tăng áp động mạch phổi,à CAD.

Khám thực thể

Kiểm tra tim mạch thần kinh nên là tập trung chính cho đánh giá ban đầu.

Kiểm tra dấu hiệu sinh tồn tư thế đứng là quan trọng để đánh giá hạ huyết áp tưhế. Tất cả các bệnh nhân nên được kiểm tra huyết áp cả 2 tay.

  • Khám tim để phát hiện bệnh van tim, rối loạn chức năng thất trái, bệnh phổi

Khám thần kinh thường bị bỏ qua, nhưng nếu khám có thể tìm ra nguyên nhânhần kinh gây ngất.

Xoa xoang cảnh trong 5–10 giây mà gây ra các triệu chứng và hậu quả là ngừnghất >3 giây được coi là hội chứng xoang cảnh tăng nhạy cảm. Điều này rất quanrọng để có biện pháp phòng ngừa thích hợp bằng việc giám sát từ xa, có thể điều trị nhịp chậm và tránh các thủ thuật ở bệnh nhân đã được biết hoặc nghi ngờ có bệnh động mạch cảnh.

Test chuẩn đoán

bệnh tim cấu trúc, ECG bất thường, tuổi >65, có dấu hiệu thần kinh khu trú và hạ huyết áp tư thế nặng gợi ý nguyên nhân đáng lo ngại hơn. Vì vậy,hững bệnh nhân này cần nhập viện ngay tránh sự chậm trễ và kết quả bất lợi.

Sau khi khám lâm sàng và hỏi tiền sử, ECG là công cụ chẩn đoán quan trọng cóiá trị đánh giá bệnh nhân. 50% trường hợp có bất thường trên ECG, nhưng chỉột mình ECG thì chỉ có giá trị chẩn đoán 5% bệnh  nhân.

Nếu bệnh nhân không có tiền sử bệnh tim hoặc ECG đã có bất thường từ trước,est “tilt-table” (“nghiêng bàn”) có thể dùng bằng việc đánh giá đáp ứng huyếtộng của bệnh nhân khi chuyển từ tư thế nằm ngửa sang thẳng đứng, để chẩn đoán. Trong quần thể ngẫu nhiên, giá trị tiên đoán của test này là thấp.

ĐIỀU TRỊ

Nhìn chung, điều trị dựa theo nguyên nhân gây ngất với mục tiêu phòng tái phát và giảm nguy cơ chấn thương hoặc tử vong.

Loading…
Chữa bệnh & Điều trị

Chữa bệnh & Điều trị

Trang chia sẻ thông tin về bệnh học và cách điều trị bệnh hiệu

Xen bài viết liên quan

Next Post

Discussion about this post