Phải làm gì khi trẻ bị đau bụng, viêm ruột thừa?

Không phải tất cả đau bụng là do nhiễm trùng đường tiêu hóa. Đau bụng kéo dài > 4 giờ nên được coi là một đau bụng cần cấp cứu.

Điều trị viêm ruột thừa có cần mổ hay không? | Vinmec

Đánh giá

  • Hãy hỏi ba câu hỏi:
  • Các triệu chứng liên quan? Buồn nôn, nôn mửa, tiêu chảy, táo bón, sốt, ho, đau đầu, đau họng hoặc khó tiểu (tiểu đau) giúp xác định mức độ nặng và có thể thu hẹp chẩn đoán.
  • Đau ở đâu? Yêu cầu trẻ chỉ chỗ đau nhiều nhất. Điều này có thể thu hẹp chẩn đoán. Đau quanh rốn là không đặc hiệu.
  • Trẻ có bị viêm phúc mạc? Đây là một câu hỏi quan trọng, hầu hết các nguyên nhân viêm phúc mạc ở trẻ em cần phải phẫu thuật.
  • Dấu hiệu viêm phúc mạc bao gồm đau khi sờ, đau ở vùng bụng, đặc biệt khi cử động, canh giữ và gồng bụng không tự ý (co thắt hệ thống cơ bụng khi sờ nắn). Bụng cứng không di động theo nhịp thở là dấu hiệu của viêm phúc mạc. Không nghe thấy âm ruột cũng là một dấu hiệu nặng.

Điều trị

⁃ Cho trẻ nhịn

⁃ Nếu trẻ nôn ói hoặc chướng bụng, đặt một ống thông mũi dạ dày.

⁃ Truyền dịch. Điều trị sốc, nếu có, với normal saline 20 ml/kg truyền nhanh (xem Lưu đồ 7, tr. 13). Nếu còn sốc, lặp lại các liều bolus tiêm mạch 20 ml/kg, nhưng theo dõi sát để tránh quá tải tuần hoàn. Nếu không sốc nhưng trẻ bị mất nước, cho 10–20 ml/kg normal saline với glucose 5% trong 20 phút, và cung cấp 150% lượng dịch theo nhu cầu căn bản (xem tr. 304).

⁃ Cho thuốc giảm đau nếu đau nhiều (không che lấp các triệu chứng ở bụng và tạo thuận lợi cho quá trình thăm khám).

⁃ Khám lại nếu không rõ chẩn đoán.

⁃ Cho kháng sinh nếu có dấu hiệu viêm phúc mạc. Để điề trị vi khuẩn chí đường ruột (trực khuẩn Gram âm, Enterococci và vi khuẩn kỵ khí), cho ampicillin (25–50 mg/kg tiêm bắp hoặc tiêm mạch bốn lần một ngày), gentamicin (7,5 mg/kg tiêm bắp hoặc tiêm mạch một lần một ngày) và metronidazole (10 mg/kg ba lần một ngày).

Hội chẩn khẩn với một bác sĩ phẫu thuật có kinh nghiệm trong phẫu thuật nhi khoa.

Viêm ruột thừa

Viêm ruột thừa là do tắc nghẽn lòng ruột thừa. Viêm ruột, tăng sản lympho và nhiễm ký sinh trùng tiêu hóa có thể gây ra tắc nghẽn. Nếu viêm ruột thừa không được phát hiện sẽ bị vỡ ruột thừa, dẫn đến viêm phúc mạc và hình thành ổ áp–xe.

Chẩn đoán

Rất khó khăn, đặc biệt là ở trẻ nhỏ.

  • Sốt, chán ăn, nôn (thay đổi)
  • Có thể khởi phát với đau quanh rốn, nhưng dấu hiệu lâm sàng quan trọng nhất là đau dai dẳng và đau ở góc phần tư dưới bên phải bụng.
  • Có thể bị nhầm với các bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu, sỏi thận, bệnh lý buồng trứng, viêm hạch mạc treo, viêm túi thừa

Tăng số lượng tế bào bạch cầu. Siêu âm kiểm tra có thể rất hữu ích.

Điều trị

⁃ Cho trẻ nhịn

⁃ Cho chất lỏng IV

  • Truyền dịch. Điều trị sốc, nếu có, với normal saline 20 ml/kg truyền nhanh. Nếu còn sốc, lặp lại các liều bolus tiêm mạch 20 ml/kg, nhưng theo dõi sát để tránh quá tải tuần hoàn. Nếu không sốc nhưng trẻ bị mất nước, cho 10–20 ml/kg normal saline với glucose 5% trong 20 phút, và cung cấp 150% lượng dịch theo nhu cầu căn bản.

⁃ Cho thuốc kháng sinh khi có chẩn đoán: ampicillin (25–50 mg/kg tiêm bắp hoặc tiêm mạch bốn lần một ngày), gentamicin (7,5 mg/kg tiêm bắp hoặc tiêm mạch một lần một ngày) và metronidazole (10 mg/kg ba lần một ngày).

Hội chẩn khẩn với một bác sĩ phẫu thuật có kinh nghiệm trong phẫu thuật nhi khoa. Cắt ruột thừa nên được thực hiện càng sớm càng tốt để tránh thủng, viêm phúc mạc và hình thành áp-xe. Mặc dù phẫu thuật và có thể sai về chẩn đoán nhưng vẫn tốt hơn là trì hoãn để viêm phúc mạc xảy ra.

Chữa bệnh & Điều trị

Chữa bệnh & Điều trị

Trang chia sẻ thông tin về bệnh học và cách điều trị bệnh hiệu

Xen bài viết liên quan

Next Post

Discussion about this post