Viêm phúc mạc

Viêm phúc mạc nguyên phát hoặc tự phát do vi khuẩn (spontaneous bacterial peritonitis–SBP) là một biến chứng thường gặp của bệnh xơ gan cổ trướng và cần được loại trừ trong bất kỳ bệnh nhân tràn dịch màng bụng và sốt hoặc bệnh lý mấtù khác bao gồm bệnh não, suy thận và chảy máu đường tiêu hóa. M. tuberculosis Neisseria gonorrhoeae (hội chứng Fitz-Hugh-Curtis ở phụ nữ) cũng đôi khi gây ra viêm phúc mạc nguyên phát ở những bệnh nhân có nguy cơ.

Viêm phúc mạc: nguyên nhân, triệu chứng và phương pháp điều trị

Viêm phúc mạc thứ phát được gây ra bởi một vị trí thủng tạng trong đường tiêuóa hoặc đường sinh dục hoặc lan truyền từ một nhiễm trùng nội tạng, thườngần một phẫu thuật ngoại khoa ổ bụng cấp cứu. Tổn thương do rất nhiều loài vi khuẩn khác nhau.

CHUẨN ĐOÁN

Biểu hiện lâm sàng

Các dấu hiệu và triệu chứng có thể không xuất hiện ở những bệnh nhân SBP, do vậy, việc chọc hút để chẩn đoán nên được thực hiện ở tất cả nhứng bệnh nhân nhập viện do xơ gan cổ trướng hoặc chảy máu đường tiêu hóa, bệnh lý não gan hoặc giảm chức năng gan/thận. (Gut 2012;61:297).

Test chuẩn đoán

Chẩn đoán SBP được thực hiện bởi việc gửi dịch cổ trướng để nuôi cấy (lấy bệnh phẩm trực tiếp tại giường), đếm tế bào và vi phân. SBP được chẩn đoán khi dịchổ trướng có >250 neutrophils.

Chẩn đoán viêm phúc mạc thứ phát được thực hiện trên lâm sàng, bổ sung bằnguôi cấy máu (dương tính từ 20% tới 30%) và chẩn đoán hình ảnh để đánh giá khíự do (thủng) hoặc nguyên nhân nhiễm trùng khác.

ĐIỀU TRỊ

Điều trị ban đầu SBP, nuôi cấy dịch cổ trướng kết quả âm tính (culture-negative neutrophilic ascites–CNNA) không có bằng chứng nhiễm khuẩn trong dịch cổ chướng (khi có dưới 250 tế bào đa nhân  trung tính trong dịch cổ trướng

[polymorphonuclear neutrophils–PMNs]) nên được thu hẹp nếu căn nguyên gây bệnh được phân lập. Thời gian điều trị là 7 ngày, tuy nhiên nên được kéo dài tới 2 tuần nếu vi khuẩn vẫn tồn tại. Tiêm albumin bổ sung tĩnh mạch vào ngày thứ nhất và thứ ba của điều trị có thể cải thiện khả năng sống sót (N Engl J Med 1999;341(6):403). Nếu chọc hút lặp lại cho thấy <250 PMNs và mẫu nuôi cấy tiếp tục âm tính thì điều trị có thể rút ngắn xuống 5 ngày. Dự phòng viêm phúc mạc tiên phát nên được bắt đầu sau lần đầu mắc viêm phúc mạc tiên phát hoặc sau khi chảy máu do giãn tĩnh mạch.

Viêm phúc mạc thứ phát chủ yếu đòi hỏi phải can thiệp phẫu thuật. Cần điều trịháng sinh phổ rộng và phù hợp với căn nguyên nghĩ đến trong khi chờ đợi cácết quả nuôi cấy. Điều trị chống nấm theo kinh nghiệm thường không được chỉ định. Việc hình thành áp-xe trong ổ bụng là một biến chứng của viêm phúc mạc thứ cấp thường đòi hỏi phải dẫn lưu. Kháng sinh thường được tiếp tục sử dụng cho đến khi không thấy các ổ áp-xe theo chẩn đoán bằng hình ảnh.

Loading…
Chữa bệnh & Điều trị

Chữa bệnh & Điều trị

Trang chia sẻ thông tin về bệnh học và cách điều trị bệnh hiệu

Xen bài viết liên quan

Next Post

Discussion about this post